Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

I. LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

1. Ô tô không chuyển đổi sang tài khoản giao thông sẽ không được qua trạm thu phí

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 31 Nghị định 119/2024/NĐ-CP thì một trong những quyền và nghĩa vụ của chủ phương tiện là phối hợp với Nhà cung cấp dịch vụ thanh toán tiền sử dụng đường bộ thực hiện việc chuyển đổi tài khoản thu phí đã có theo Quyết định 19/2020/QĐ-TTg sang tài khoản giao thông và thực hiện kết nối phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt với tài khoản giao thông trước 01/10/2025.

Như vậy trước 01/10/2025, chủ xe ô tô phải thực hiện chuyển đổi tài khoản thu phí đang sử dụng hiện nay sang tài khoản giao thông kết nối phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu không thực hiện, phương tiện sẽ không lưu thông được qua trạm thu phí.

2. Phụ nữ độc thân có nguyện vọng được thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Tại Điều 3 Nghị định 207/2025/NĐ-CP, nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định như sau:

  • Việc thực hiện hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải tuân theo nguyên tắc chỉ được hiến tại một cơ sở được phép lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi.
  • Tinh trùng, noãn, phôi hiến chỉ được sử dụng cho một phụ nữ hoặc một cặp vợ chồng để sinh con.
  • Việc hiến và nhận tinh trùng, hiến và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận.
  • Chỉ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đối với các cặp vợ chồng vô sinh hoặc có chỉ định về y tế và phụ nữ độc thân có nguyện vọng.

3. Nâng mức thu nhập được mua Nhà ở xã hội từ 10/10/2025

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 261/2025/NĐ-CP trong đó chính thức nâng mức thu nhập được mua Nhà ở xã hội từ 10/10/2025. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện về thu nhập để mua nhà ở xã hội như sau:

a. Với người đã kết hôn: Người đứng đơn và vợ hoặc chồng của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận (quy định cũ là 30 triệu đồng/tháng).

b. Với người chưa kết hôn:

  • Nếu chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận (quy định cũ là 15 triệu đồng/tháng).
  • Nếu chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

c. Với người lao động tự do, không có hợp đồng lao động: Đảm bảo điều kiện về thu nhập ở trên và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận (quy định cũ là Ủy ban nhân dân cấp xã).

Sau khi nhận được đơn đề nghị xác nhận của người có yêu cầu mua nhà ở xã hội thì trong thời hạn 07 ngày, Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận căn cứ thông tin cơ sở dữ liệu về dân cư để thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập.

II. LĨNH VỰC THUẾ

1. Áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung từ ngày 15/10/2025

Chính phủ ban hành Nghị định số 236/2025/NĐ-CP ngày 29/8/2025 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2025.

Theo đó, người nộp thuế là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao ít nhất 2 năm trong 4 năm liền kề trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế tương đương 750 triệu euro trở lên, trừ các trường hợp được loại trừ theo quy định. Với các tập đoàn mới thành lập, nếu trong thời gian hoạt động dưới 4 năm đã có ít nhất 2 năm đạt ngưỡng doanh thu 750 triệu euro thì các đơn vị hợp thành cũng thuộc diện phải nộp thuế.

2. Từ 10/10/2025, giảm thuế xuất khẩu vàng trang sức, kỹ nghệ xuống 0%

Theo Nghị định 260/2025/NĐ-CP, nhiều mặt hàng thuộc nhóm 71.13, 71.14 và 71.15 được điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu mới, trong đó đáng chú ý là giảm thuế xuất khẩu vàng trang sức và đồ kỹ nghệ xuống còn 0%. Cụ thể như sau:

  • Đồ trang sức và các bộ phận của đồ trang sức bằng bạc, đã hoặc chưa mạ, dát phủ kim loại quý khác (mã hàng 7113.11.10 và 7113.11.90), cùng với đồ trang sức bằng kim loại cơ bản dát phủ kim loại quý (mã hàng 7113.20.10 và 7113.20.90) giữ nguyên mức thuế 0%.
  • Đồ trang sức và bộ phận bằng kim loại quý khác, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ kim loại quý (mã hàng 7113.19.10 và 7113.19.90) giảm thuế từ 1% xuống 0%.
  • Đồ kỹ nghệ bằng kim loại quý khác và các bộ phận của đồ kỹ nghệ vàng bạc cũng được giảm từ 1% xuống 0%; riêng đồ kỹ nghệ bằng bạc hoặc bằng kim loại cơ bản dát phủ kim loại quý tiếp tục giữ ở mức 0%.
  • Ngoài ra, các sản phẩm khác bằng vàng hoặc bạc (mã hàng 7115.90.10) cũng giảm từ 1% xuống còn 0%.

3. Từ 01/10/2025, áp thuế 15% với doanh nghiệp có doanh thu dưới 3 tỷ đồng/năm

Đây là một trong những quy định đáng chú ý tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, hiệu lực từ 01/10/2025. Theo Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, thuế suất thuế TNDN được quy định cụ thể như sau:

  • Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: 20%.
  • Thuế suất 15%: áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng.
  • Thuế suất 17%: áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng.

Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc nhóm nào là tổng doanh thu của kỳ tính thuế TNDN liền kề trước đó, và việc xác định tổng doanh thu cụ thể sẽ do Chính phủ hướng dẫn chi tiết.

III. LĨNH VỰC VÀNG

1. Chính thức xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng

Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và chính thực có hiệu lực từ ngày 10/10/2025.

Điểm đáng chú ý của Nghị định 232/2025/NĐ-CP là đã bãi bỏ khoản 3 Điều 4 của Nghị định 24/2012/NĐ-CP xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 10 Điều 4 của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về thanh toán mua, bán vàng: “Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”

2. Rút ngắn thời hạn cấp Giấy phép sản xuất, kinh doanh vàng từ 10/10/2025

Từ ngày 10/10/2025, Thông tư 34/2025/TT-NHNN chính thức có hiệu lực, thay thế toàn bộ các quy định cũ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là rút ngắn đáng kể thời gian cấp các loại giấy phép liên quan đến sản xuất, kinh doanh vàng

Theo Điều 13, 14, 16 và 17 Thông tư 34/2025/TT-NHNN, thời hạn cấp phép được quy định cụ thể, rút ngắn trung bình từ 30 – 50% so với quy định cũ. Cụ thể:

Loại giấy phép Thời hạn cấp phép mới Thời hạn cấp phép cũ
Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ 30 ngày làm việc
Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng 20 ngày làm việc 30 ngày làm việc
Giấy phép sản xuất vàng miếng 30 ngày làm việc 45 ngày làm việc
Giấy phép tạm nhập – tái xuất vàng nguyên liệu 10 ngày làm việc 15 ngày làm việc
Giấy phép xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu (khai thác hoặc FDI) 10 – 15 ngày làm việc 20 – 30 ngày làm việc

Bài viết trên là vấn đề liên quan đến “Bản tin pháp luật tháng 10 – 2025″, John Nguyễn & Các cộng sự xin gửi đến quý bạn đọc/ khách hàng. Nếu như còn những thắc mắc liên quan đến lĩnh vực này thì quý bạn đọc/ khách hàng có thể liên hệ đến John Nguyễn & Các cộng sự (Hotline: 0988 599 854 hoặc email: [email protected]) để có sự tư vấn đầy đủ và chính xác nhất từ các chuyên gia. Đội ngũ luật sư chúng tôi luôn nỗ lực hết mình để mang đến giải pháp pháp lý hiệu quả cho quý khách hàng, vì chúng tôi luôn định hướng “Chất lượng là danh dự”.