I. Tóm tắt nội dung vụ án
1. Nội dung vụ việc
Phòng giao dịch D trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố C có chức năng huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Trong thời gian hoạt động, một số nhân viên đã được phân công thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến giao dịch tiền gửi và chi trả tiền tiết kiệm.
Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2010, Võ Thị Ánh N là giao dịch viên thuộc bộ phận kế toán – ngân quỹ của chi nhánh ngân hàng. Mặc dù không được giao nhiệm vụ chi trả tiền tiết kiệm, nhưng N đã lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý để nhiều lần trực tiếp lập thủ tục rút tiền từ quỹ ngân hàng đối với sổ tiết kiệm mang tên “Ngô Thanh V”.
Tổng số tiền N đã thực hiện thủ tục chi là 471.432.700 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định không có khách hàng nào tên Ngô Thanh V, và N cũng không chứng minh được người nhận tiền là ai.
Trong số tiền trên, N đã chuyển 251.000.000 đồng vào tài khoản ATM do mình quản lý, sau đó rút ra sử dụng cá nhân. Số tiền còn lại 220.432.700 đồng không xác định được người nhận. Trong quá trình điều tra, N đã khắc phục lại toàn bộ phần tiền này cho ngân hàng.
2. Quá trình giải quyết vụ việc
a. Tòa án cấp sơ thẩm
Tòa án cấp sơ thẩm xác định Võ Thị Ánh N phạm tội “Tham ô tài sản” và chỉ tính trách nhiệm hình sự đối với số tiền 251.000.000 đồng mà bị cáo đã chuyển vào tài khoản cá nhân để chiếm đoạt. Tòa áp dụng khoản 2 Điều 278 Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo 03 năm tù.
b. Tòa án cấp phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên tội danh và mức hình phạt, đồng thời cho bị cáo hưởng án treo, với thời gian thử thách 05 năm.
c. Giám đốc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị cho rằng hai cấp tòa đã đánh giá sai giá trị tài sản bị chiếm đoạt và bỏ lọt tội phạm.
Hội đồng Thẩm phán nhận định rằng toàn bộ 471.432.700 đồng đều là số tiền bị cáo đã làm thủ tục chi trái quy định, không chứng minh được người nhận hợp pháp, nên phải được xác định là tài sản bị chiếm đoạt trong tội tham ô. Việc bị cáo khắc phục hậu quả sau đó chỉ là tình tiết giảm nhẹ, không làm thay đổi bản chất hành vi phạm tội.
Do đó, việc Viện kiểm sát không truy tố đối với phần tiền 220.432.700 đồng vì lý do đã khắc phục hậu quả là bỏ lọt tội phạm, và việc các tòa án cấp dưới áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn là không đúng.
Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra, xét xử lại.
II. Nội dung Án lệ
“Đối với số tiền còn lại 220.432.700 đồng (471.432.700 – 251.000.000 = 220.432.700 đồng) mà Võ Thị Ánh N đã chi trả cho sổ tiết kiệm bậc thang NA 1297720 mang tên Ngô Thanh V, Võ Thị Ánh N đã khắc phục xong hậu quả, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố C đã thu hồi được toàn bộ số tiền bị mất. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định cho rằng bị cáo đã khắc phục hậu quả nên không truy tố về hành vi này là bỏ lọt tội phạm”
Án lệ số 19/2018/AL làm rõ các vấn đề quan trọng trong việc xử lý tội Tham ô tài sản, cụ thể như sau:
1. Cách xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không chỉ giới hạn ở số tiền bị cáo đã trực tiếp sử dụng cho cá nhân, mà bao gồm toàn bộ số tiền đã bị rút, chi trái quy định mà không chứng minh được việc chi trả hợp pháp.
2. Khắc phục hậu quả không loại trừ trách nhiệm hình sự
Việc bị cáo hoàn trả tiền sau khi hành vi bị phát hiện chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ, không phải căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với phần tài sản đã chiếm đoạt.
3. Tránh bỏ lọt tội phạm trong các vụ án tham nhũng
Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định đầy đủ toàn bộ thiệt hại và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, không được loại trừ phần tài sản chỉ vì đã thu hồi lại được trong quá trình điều tra.
III. Trường hợp áp dụng án lệ
Khi vụ án hình sự bị truy tố về tội tham ô tài sản và xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt. Trong quá trình điều tra, bị cáo có bồi thường, khắc phục hậu quả một phần số tiền đã chiếm đoạt, thì phải truy tố và xét xử bị cáo về tội tham ô với tổng số tiền được xác định chiếm đoạt ban đầu. Khi vụ án hình sự có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự như vậy thì Tòa án phải áp dụng ALHS số 19/2018 để xét xử bị cáo.
Bài viết này được đội ngũ John Nguyen & Associates tổng hợp và xây dựng trên Án lệ số 19/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từ nguồn Trang Tin Điện Tử Về Án Lệ của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.

