Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

I. Tóm tắt nội dung vụ án

1. Nội dung vụ việc

Vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất có diện tích 398m² tọa lạc tại tỉnh Vĩnh Phúc. Ông bà có 06 người con chung. Năm 1984, ông Phùng Văn N chết, không để lại di chúc, di sản thừa kế chưa được phân chia.

Năm 1991, bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m² đất trong tổng diện tích thửa đất nêu trên. Việc chuyển nhượng này được các con của bà G biết rõ, không có ý kiến phản đối và đều thừa nhận mục đích bán đất là để lo cuộc sống chung cho bà G và các con.

Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Phùng Văn K đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 131m². Phần diện tích đất còn lại do bà G và một người con quản lý, sử dụng; bà G cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích này.

Năm 2010, bà Phùng Thị G chết. Sau đó, các con của ông N, bà G phát sinh tranh chấp và khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với toàn bộ diện tích đất 398m², bao gồm cả phần đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

2. Quá trình giải quyết vụ việc

a. Tòa án cấp sơ thẩm

Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn bộ diện tích 398m² đất là di sản thừa kế của ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G, đưa cả phần diện tích 131m² đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K vào khối di sản để chia thừa kế.

b. Tòa án cấp phúc thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm, cho rằng phần diện tích đất đã được bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không còn thuộc khối di sản thừa kế để chia, do việc chuyển nhượng đã được các đồng thừa kế biết và không phản đối, đồng thời đã hoàn tất về mặt pháp lý.

c.  Tòa án nhân dân tối cao

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 573/2013/DS-GĐT ngày 16/12/2013, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định rằng: việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng 131m² đất cho ông Phùng Văn K được các con của bà G biết, không phản đối; số tiền chuyển nhượng được sử dụng để lo cuộc sống chung; bên nhận chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, có đủ cơ sở xác định các đồng thừa kế đã đồng ý với việc chuyển nhượng này, và phần diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế.

II. Nội dung Án lệ

“[2] Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2. Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con. Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng.”

Từ lập luận của Quyết định giám đốc thẩm nêu trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã lựa chọn và phát triển thành Án lệ số 16/2017/AL, qua đó làm rõ và khẳng định các vấn đề pháp lý sau:

1. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng di sản thừa kế

Án lệ khẳng định rằng: trong trường hợp di sản thừa kế là bất động sản, do một trong các đồng thừa kế thực hiện việc chuyển nhượng cho người thứ ba, nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây thì hợp đồng chuyển nhượng phải được công nhận là hợp pháp:

a. Di sản thừa kế là bất động sản;

b. Người chuyển nhượng là một trong các đồng thừa kế;

c. Các đồng thừa kế khác biết việc chuyển nhượng nhưng không phản đối, thể hiện sự chấp thuận một cách mặc nhiên;

d. Số tiền chuyển nhượng được sử dụng nhằm phục vụ lợi ích chung, lo cuộc sống cho các đồng thừa kế, không vì mục đích cá nhân;

e. Bên nhận chuyển nhượng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc các đồng thừa kế không phản đối trong hoàn cảnh này được xem là sự thỏa thuận, đồng thuận ngầm, làm phát sinh căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho bên nhận chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai.

2. Xác định phạm vi di sản thừa kế 

Trên cơ sở công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng, Án lệ xác định rằng phần diện tích đất đã được chuyển nhượng hợp pháp không còn thuộc khối di sản thừa kế để chia. Khi đó, di sản thừa kế chỉ bao gồm phần tài sản còn lại của người để lại di sản tại thời điểm mở thừa kế, không bao gồm tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba.

III. Trường hợp áp dụng Án lệ

Án lệ số 16/2017/AL có thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong những trường hợp sau:

1. Di sản thừa kế là bất động sản, chưa được phân chia ngay sau thời điểm mở thừa kế.

2. Một hoặc một số đồng thừa kế đã thực hiện việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ di sản cho người khác.

3. Các đồng thừa kế còn lại biết việc chuyển nhượng nhưng không phản đối trong suốt quá trình thực hiện giao dịch.

4. Việc chuyển nhượng nhằm phục vụ lợi ích chung của các đồng thừa kế.

5. Giao dịch chuyển nhượng đã hoàn tất về mặt pháp lý, bên nhận chuyển nhượng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong các trường hợp này, Tòa án cần công nhận hợp đồng chuyển nhượng là hợp pháp và loại trừ phần tài sản đã chuyển nhượng khỏi khối di sản thừa kế khi giải quyết yêu cầu chia di sản.


Bài viết này được đội ngũ John Nguyen & Associates tổng hợp và xây dựng trên Án lệ số 16/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từ nguồn Trang Tin Điện Tử Về Án Lệ của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.