I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nội dung vụ việc
Ông Đặng Văn L khởi kiện Công ty bảo hiểm nhân thọ C yêu cầu thanh toán tiền bảo hiểm theo hai hợp đồng bảo hiểm nhân thọ do vợ ông là bà H tham gia trước khi qua đời. Khi giao kết hợp đồng, bà H đã kê khai tình trạng sức khỏe trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm. Sau khi bà H qua đời, ông L yêu cầu công ty chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng nhưng bị từ chối với lý do bà H không kê khai trung thực tình trạng sức khỏe, cho rằng bà có tiền sử bệnh nhưng không khai báo đầy đủ. Ông L cho rằng việc từ chối này không có căn cứ vì các vấn đề sức khỏe của bà H không nghiêm trọng và không ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng, nên đã khởi kiện Công ty C.
Tại đơn bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 30/05/2011 ông Đặng Văn L yêu cầu Công ty C phải trả cho ông số tiền 470.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Số tiền lãi tạm tính đến thời điểm hiện nay là 43.000.000 đồng. Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 22/06/2011 ông Đặng Văn L thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Buộc Công ty C phải chi trả tổng số tiền là 203.772.500 đồng cho 02 hợp đồng bảo hiểm số S11000009505, S11000040924 và tiếp tục thực hiện hợp đồng S11000009505 mua ngày 14/10/2008; trả hai hợp đồng bản gốc số S11000009505; S11000040924.
Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 18/04/2015 ông Đặng Văn L yêu cầu:
Buộc Công ty C phải trả cho ông số tiền là 405.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
Buộc Công ty C phải trả 02 hợp đồng bảo hiểm gốc số S11000009505 và S11000040924 mà công ty đã thu giữ từ phía gia đình ông.
2. Quá trình giải quyết vụ án
a. Tòa án cấp sơ thẩm
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các chứng cứ liên quan đến hồ sơ sức khỏe và việc kê khai thông tin khi tham gia bảo hiểm.
Sau khi xem xét, Tòa án xác định rằng các thông tin về tình trạng sức khỏe của bà H như đau dạ dày hoặc mỡ máu tăng nhẹ không phải là bệnh lý nghiêm trọng và không phải là yếu tố quyết định để doanh nghiệp bảo hiểm từ chối giao kết hợp đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L và
- Buộc công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải chịu trách nhiệm chi trả cho ông Đặng Văn L số tiền bảo hiểm là 300.875.342 đồng
- Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải giao trả cho ông L hai hợp đồng bảo hiểm ngày 14-10-2008, hợp đồng bảo hiểm Tử kỳ có hoàn phí ngày 25-03-2009.
- Hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 ngày 14-10-2008 vẫn tiếp tục thực hiện.
Sau đó, bị đơn – công ty C có đơn kháng cáo, kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
b. Tòa án cấp phúc thẩm
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là công ty C.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
c. Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng xét xử nhận định rằng Công ty C không có đủ căn cứ chứng minh bà H đã cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khi tham gia bảo hiểm. Việc Công ty C cho rằng bệnh đau dạ dày của bà H thuộc trường hợp “rối loạn tại dạ dày” là không có cơ sở vì không có chứng cứ khoa học chứng minh.
Ngoài ra, đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi trực tiếp về bệnh đau dạ dày, nên không thể xác định bà H cố tình khai báo không trung thực. Việc bà H từng thực hiện xét nghiệm máu trong quá trình khám sức khỏe định kỳ cũng không phải là căn cứ để cho rằng bà đã che giấu thông tin khi ký hợp đồng bảo hiểm.
Bên cạnh đó, các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm có nội dung chưa rõ ràng nên theo quy định của pháp luật phải được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.
Do đó, không có căn cứ xác định bà H gian dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc Công ty C phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm.
II. NỘI DUNG ÁN LỆ
[4] Tại câu hỏi số 54 Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009, câu hỏi: “loét đường tiêu hóa, xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy, viêm kiết tràng, khó tiêu thường xuyên, khó nuốt, hoặc rối loạn tại dạ dày, ruột gan hoặc túi mật” bà H đánh dấu vào ô không. Tại biên bản hội chẩn số 42/BV-99 của Bệnh viện B ngày 03-9-2009 bà H khai có tiền sử đau dạ dày 2 năm. Căn cứ theo Biên bản hội chẩn thì bà H có bệnh đau dạ dày từ ngày 03-9-2007 là trước thời điểm bà H ký Hợp đồng bảo hiểm. Phía Công ty C cho rằng cụm từ rối loạn tại dạ dày bao gồm tất cả các bệnh liên quan đến dạ dày trong đó có bệnh đau dạ dày. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh, không đưa ra được một giải thích khoa học nào xác định đau dạ dày chính là rối loạn tại dạ dày.
[8] Căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên thì trong trường hợp các bên có sự giải thích khác nhau không rõ ràng khó hiểu thì Điều khoản này phải được giải thích theo hướng có lợi cho bà H. Như vậy, không đủ cơ sở xác định đau dạ dày được bao gồm trong rối loạn tại dạ dày như Công ty C trình bày.
[9] Xét thấy, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi về bệnh đau dạ dày. Như vậy, phía Công ty C cho rằng bà H bị bệnh đau dạ dày mà không khai báo là cố tình khai báo không trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin là không có căn cứ.
[10] Tại câu hỏi 61 của Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009: “Trong vòng 5 năm trở lại đây, ông, bà đã có làm xét nghiệm chẩn đoán như X-quang, siêu âm, điện tim đồ, thử máu, sinh thiết? Hoặc ốm đau, bệnh tật khám y khoa, điều trị tại bệnh viện nhưng chưa được nêu ở phần trên không?” bà H đánh dấu vào ô không. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Công ty C cung cấp Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu đề ngày 22-9-2008 mang tên người bệnh là Trương Thị H. Phía Công ty C xác định đây là tài liệu do Công ty C thu thập trong hồ sơ kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân viên của Trường Mầm non C nơi trước đây bà H công tác. Công ty C cho rằng vào ngày 22-9-2008, bà H có làm xét nghiệm máu nhưng không khai báo tại câu hỏi số 61, đơn yêu cầu bảo hiểm là bà H cố tình khai báo không trung thực. Xét thấy, việc kiểm tra sức khỏe định kỳ được các cơ quan, tổ chức thực hiện một cách thường xuyên và định kỳ. Khi tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ, người được khám không biết và không buộc phải biết tổ chức khám chữa bệnh đã tiến hành các biện pháp, phương pháp gì. Hơn nữa, khi kiểm tra sức khỏe định kỳ bà H không phát hiện dấu hiệu của một căn bệnh nào dẫn đến việc Công ty C từ chối ký kết hợp đồng với bà H. Do đó, không đủ cơ sở xác định bà H cảm thấy cơ thể bất thường mới tiến hành đi xét nghiệm máu sau đó mua bảo hiểm của Công ty C.
[11] Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định bà H có gian dối khi ký hợp đồng bảo hiểm, không có cơ sở xác định việc bà H đánh dấu vào ô không của mục 54 và 61 tại Đơn yêu cầu bảo hiểm làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc Công ty C có xem xét để ký hợp đồng bảo hiểm với bà H hay không.”
III. NHẬN XÉT VỀ ÁN LỆ
1. Về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng bảo hiểm
Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực về các yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử cần xem xét mức độ ảnh hưởng của thông tin đó đối với quyết định giao kết hợp đồng của doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu thông tin không mang tính quyết định thì không thể coi là hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.
Trong bản án này, các vấn đề sức khỏe của người được bảo hiểm chỉ ở mức độ nhẹ và không phải là yếu tố làm thay đổi quyết định chấp nhận bảo hiểm. Vì vậy, việc doanh nghiệp bảo hiểm từ chối chi trả là không hợp lý.
2. Về trách nhiệm chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm
Khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hợp pháp và sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ chi trả theo hợp đồng nếu không chứng minh được việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.
IV. Trường hợp áp dụng tương tự
Thứ nhất, trong bản án này, đối tượng tranh chấp là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, nguyên tắc pháp lý trong bản án có thể được áp dụng tương tự đối với các loại hợp đồng bảo hiểm khác khi phát sinh tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm.
Thứ hai, Án lệ được hình thành từ vụ việc liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của người mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, nguyên tắc của án lệ này không chỉ giới hạn ở thông tin về sức khỏe mà còn có thể áp dụng đối với các loại thông tin khác như thông tin về nhân thân của người mua bảo hiểm hoặc thông tin liên quan đến người thụ hưởng.
Thứ ba, thông tin được cung cấp thông qua Đơn yêu cầu bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm soạn sẵn. Tuy nhiên, án lệ cũng có thể được áp dụng đối với các thông tin được quy định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm.
Bài viết này được đội ngũ John Nguyen & Associates tổng hợp và xây dựng trên Án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từ nguồn Trang Tin Điện Tử Về Án Lệ của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.

