Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

I. Tóm tắt nội dung vụ án

1. Nội dung vụ án

Tại tỉnh Quảng Trị, năm 2011, Công ty cổ phần Q (bên mua) và Công ty trách nhiệm hữu hạn T (bên bán) ký kết giao dịch dân sự là hai bản hợp đồng mua bán hàng hóa là mặt hàng cây giống cao su. Công ty T tạo giống, chăm sóc giống cây cao su tại nước Lào, khu vực biên giới hai nước, hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Một thời gian sau, khi hợp đồng không thể đạt được như nguyện vọng đặt ra, Công ty Q cho rằng Công ty T đã vi phạm hợp đồng, hai bên không thể thương lượng và hòa giải được, nên Công ty Q đã khởi kiện Công ty T, đệ đơn gửi Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng, cùng với việc trả lại vật tư đã mượn dưới dạng tiền.

2. Quá trình giải quyết vụ án

a. 04/9/2013: TAND tỉnh Quảng Trị xử sơ thẩm, ra Bản án KDTM sơ thẩm số 08/2013/KDTM-ST, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

b.  Công ty T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

c. 26/11/2013: TAND Tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt đầy đủ. Tuy nhiên, HĐXX hoãn phiên tòa để các bên cung cấp thêm chứng cứ.

d. 26/02/2014: Phiên phúc thẩm mở lại, Công ty T (bị đơn) và luật sư bảo vệ quyền lợi vắng mặt. HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Công ty T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, với nhận định đây là lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt.

e. Công ty T tiếp tục đề nghị giám đốc thẩm đối với quyết định trên.

II. Nội dung của án lệ

“[1] Về tố tụng: Theo Biên bản phiên tòa phúc thẩm ngày 26-11-2013 thì tại phiên tòa các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa để các đương sự cung cấp thêm chứng cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm được mở lại vào ngày 26-02-2014, bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt. Trường hợp Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và việc hoãn phiên tòa là do Tòa án, tại phiên tòa được mở lại đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất. Lẽ ra, Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định là bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự để hoãn phiên tòa. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, từ đó đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không đúng quy định tại Điều 199, 202, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm mất quyền kháng cáo, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.”

Tóm lại: Việc triệu tập lần thứ nhất, lần thứ hai không được hiểu đơn thuần theo thứ tự số học của lần triệu tập theo quy định tại Điều 199, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 mà phải được hiểu là sự vắng mặt lần thứ nhất của đương sự khi đã được triệu tập hợp lệ, mới coi là vắng mặt lần thứ nhất; khi triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà có đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng mới được tính là vắng mặt lần thứ hai khi đã được triệu tập hợp lệ.

III. Trường hợp áp dụng

1. Thứ nhất, những trường hợp hoãn xét xử lần một không phải do lỗi của đương sự mà do lỗi từ nhân tố khác như: người của cơ quan tố tụng vắng mặt, thay đổi người của cơ quan tố tụng, …;

2. Thứ hai, trong vụ việc tạo lập ra Án lệ số 12/2017/AL, việc triệu tập lần trước và triệu tập kế tiếp diễn ra ở cấp phúc thẩm. Hoàn cảnh tương tự có thể xảy ra ở cấp sơ thẩm và Án lệ này cũng có thể được áp dụng;

3. Thứ ba, vụ án tạo lập ra án lệ xảy ra khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực. Tuy nhiên, khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực thì những vụ án có tình tiết tương tự cũng sẽ được áp dụng.


Bài viết này được đội ngũ John Nguyen & Associates tổng hợp và xây dựng trên Án lệ số 12/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từ nguồn Trang Tin Điện Tử Về Án Lệ của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.