Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Trong quan hệ lao động, việc tham gia các khoản bảo hiểm bắt buộc không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ pháp lý của Người lao động nhằm bảo đảm an sinh lâu dài và chia sẻ rủi ro xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng Người lao động không thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc, dù thuộc diện phải tham gia theo quy định của pháp luật. Vấn đề này đặt ra câu hỏi: Người lao động không đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành?

1. Các trường hợp Người lao động được quyền không đóng bảo hiểm xã hội

Căn cứ Điều 42 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH 2017 quy định về việc quản lý đối tượng tham gia BHXH thì Người lao động chỉ không đóng bảo hiểm xã hội trong tháng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội;

b. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT;

c. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và Người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, không được tính là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và được cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho Người lao động.

Nếu không rơi vào trong 3 trường hợp kể trên, Người lao động không được tự ý ngừng đóng hoặc không đóng bảo hiểm xã hội. Việc tự ý ngừng đóng hoặc không đóng bảo hiểm xã hội là hành vi vi phạm pháp luật và Người lao động không đóng bảo hiểm xã hội thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Trách nhiệm hành chính khi Người lao động vi phạm

Căn cứ khoản 1 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, Người lao động sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thỏa thuận với Người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định bảo hiểm.

Người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm trong việc công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội, thực hiện thủ tục xác nhận đóng bảo hiểm để Người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng thất nghiệp theo quy định, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, chậm đóng hoặc đóng bảo hiểm không đúng mức. Nếu không tuân thủ quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, Người sử dụng lao động cũng sẽ bị xử phạt với mức phạt tiền tại khoản 2 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Ngoài ra, Người sử dụng lao động còn cần tuân thủ các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nếu có.

Tựu chung lại, việc xử phạt Người lao động không tham gia đóng bảo hiểm xã hội là một biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và duy trì sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ an sinh xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, Nhà nước cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của Người lao động về quyền lợi lâu dài mà bảo hiểm xã hội mang lại. Chỉ khi Người lao động chủ động tham gia và chấp hành nghiêm túc quy định, hệ thống bảo hiểm xã hội mới thực sự phát huy vai trò là “tấm lưới an sinh” vững chắc, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế bền vững.


Bài viết trên là vấn đề liên quan đến “Người lao động không đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc thì bị xử lý như thế nào?”, John Nguyễn & Các cộng sự xin gửi đến quý bạn đọc/ khách hàng. Nếu như còn những thắc mắc liên quan đến lĩnh vực này thì quý bạn đọc/ khách hàng có thể liên hệ đến John Nguyễn & Các cộng sự (Hotline: 0988 599 854 hoặc email: [email protected]) để có sự tư vấn đầy đủ và chính xác nhất từ các chuyên gia. Đội ngũ luật sư chúng tôi luôn nỗ lực hết mình để mang đến giải pháp pháp lý hiệu quả cho quý khách hàng, vì chúng tôi luôn định hướng “Chất lượng là danh dự”.