Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Án lệ số 06/2016/AL là một trong những án lệ quan trọng của Tòa án nhân dân tối cao, liên quan đến việc giải quyết tranh chấp thừa kế trong trường hợp có người thừa kế ở nước ngoài hoặc không xác định được địa chỉ liên lạc. Vấn đề pháp lý được đặt ra là: Tòa án có tiếp tục giải quyết vụ án chia thừa kế khi một số người thừa kế không xác định được địa chỉ hay không?

1. Tóm tắt vụ án

a. Sự kiện pháp lý

Vợ chồng cụ Vũ Đình Quảng và cụ Nguyễn Thị Thênh sở hữu ngôi nhà 123 m² tại số 66 phố Đồng Xuân (Hà Nội). Hai cụ mất không để lại di chúc, để lại 6 người con, trong đó 3 người định cư ở nước ngoài (ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo) và 3 người sinh sống tại Việt Nam (ông Hưng, bà Tiến, bà Hậu).

Sau khi hai cụ mất, ba người con trong nước tạm chia nhà thành ba phần để sử dụng. Năm 1989, bà Tiến bán phần nhà của mình cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Năm 1993, bà Hậu tiếp tục bán phần nhà được chia cho bà Hà Thùy Linh. Ông Hưng cho rằng việc bán khi chưa tiến hành chia thừa kế là trái pháp luật nên khởi kiện yêu cầu chia di sản theo pháp luật.

b. Quan điểm của các bên

  • Bà Tiến thừa nhận việc bán nhà, cho rằng đã được chính quyền công nhận, đồng thời khẳng định những người ở nước ngoài không có ý kiến phản đối.
  • Bà Hậu khai rằng đã thông báo cho các anh chị em và được đồng ý.
  • Bà Oanh và bà Linh (người mua nhà) khẳng định đã thanh toán và sử dụng ổn định, yêu cầu công nhận quyền sở hữu.
  • Ông Hưng nộp giấy ủy quyền và giấy “cho hẳn quyền thừa kế” của những người ở nước ngoài, nhưng giấy tờ không đủ giá trị pháp lý.

Vụ án kéo dài qua nhiều cấp xét xử từ 1989 đến 2010. Các Tòa án nhiều lần đình chỉ vì lý do chưa xác định được địa chỉ hoặc chưa làm rõ người thừa kế của ông Đường và bà Thảo (đều đã mất). Năm 2013, Chánh án Toakháng nghị giám đốc thẩm, cho rằng việc đình chỉ là sai, vì làm mất quyền khởi kiện của ông Hưng, và đề nghị hủy quyết định đình chỉ để xét xử lại.

2. Nội dung án lệ

“Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong nước quản lý để sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng.”

Câu hỏi pháp lý đặt ra trong vụ án này là: Khi có người thừa kế không xác định được địa chỉ, Tòa án có được tiếp tục giải quyết vụ án chia di sản hay phải đình chỉ vụ án? Án lệ số 06/2016/AL đã giải quyết theo hướng:

a. Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ án để bảo đảm quyền khởi kiện, tránh kéo dài tố tụng. Không được lấy lý do “không xác định được địa chỉ” để đình chỉ vụ án.

b. Phần di sản của người thừa kế không xác định được địa chỉ vẫn phải chia theo pháp luật, giao cho một hoặc một số đồng thừa kế (có địa chỉ rõ ràng) tạm quản lý thay. Khi người vắng mặt xuất hiện, họ vẫn có quyền nhận lại di sản.

c. Nghĩa vụ cung cấp thông tin, chứng cứ được linh hoạt: Tòa án có thể xác định ai là người có điều kiện cung cấp thì người đó phải thực hiện, thay vì cứng nhắc buộc nguyên đơn phải chứng minh toàn bộ.

III. Các trường hợp áp dụng

Hướng giải quyết của án lệ số 06/2016/AL được vận dụng trong các trường hợp:

a. Không xác định được địa chỉ của người thừa kế hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ở trong hoặc ngoài nước);

b. Đương sự cung cấp địa chỉ sai, địa chỉ thay đổi nhưng không thông báo, hoặc lâu năm không liên lạc được;

c. Người thừa kế ở nước ngoài chưa thể thực hiện thủ tục khai nhận di sản;

d. Nguyên đơn/bị đơn không thể cung cấp thông tin do yếu tố khách quan, cần chuyển nghĩa vụ này sang đương sự khác có khả năng hơn;

e. Ngoài các tranh chấp thừa kế, còn có thể áp dụng cho tranh chấp chia tài sản chung khi một số đồng sở hữu không xác định được địa chỉ.


Bài viết này được đội ngũ John Nguyen & Associates tổng hợp và xây dựng trên Án lệ số 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từ nguồn Trang Tin Điện Tử Về Án Lệ của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.